Men vi sinh EnteroGolds/EnteroGran

Men tiêu hóa EnteroGolds/EnteroGran

Các chế phẩm probiotics EnteroGolds và EnteroGran có tác dụng như thế nào

 

Người đăng: Hỗ trợ tiêu hóa | 2017-03-13 09:06:11

Phó Viện trưởng Viện Công nghệ sinh học và Môi trường

Trường Đại học Nha Trang

E-mail: duynv@ntu.edu.vn

Website: https://duypost.com/MiHaaht

PGS TS Nguyễn Văn Duy

 

 

1. Probiotic là gì?

Hệ vi sinh vật sống trong đường ruột người có số lượng lên tới 1014 tế bào, gấp 10 lần tổng số tế bào của cơ thể con người. Trong số này, phần lớn là các vi khuẩn có lợi cho sức khỏe vật chủ, ngược lại, các vi khuẩn trực tiếp hoặc gián tiếp gây bệnh được gọi là vi khuẩn có hại. Do vậy, trạng thái cân bằng giữa vi sinh vật có lợi và vi sinh vật có hại trong thành phần hệ vi sinh vật đường ruột đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe của con người, thậm chí còn được coi là một trong những chìa khóa về tuổi thọ của còn người.

Mặc dù con người đã biết tiêu thụ các thực phẩm chứa vi sinh vật có lợi từ hàng ngàn năm trước, việc sử dụng hai nhóm vi khuẩn lactic của Elie Metchnikoff (nhà khoa học người Nga giành giải Nobel Y học vào năm 1908) và Henry Tissier (một bác sĩ người Pháp làm việc tại Viện Pasteur Paris) vào đầu thế kỷ 20 đã chính thức mở ra một lĩnh vực khoa học mới phục vụ sức khỏe con người và động vật: khoa học và công nghệ probiotic. Dựa trên những quan sát lâm sàng, cả hai nhà khoa học đã lần đầu tiên đưa ra các giả thuyết của mình, đặt nền móng cho sự phát triển của khoa học và công nghệ probiotic. Trong khi Henry Tissier cho rằng Bifidobacterium là nhóm vi khuẩn chiếm ưu thế trong hệ đường ruột nên có thể chiếm chỗ các vi khuẩn gây rối loạn tiêu hóa, Elie Metchnikoff giải thích rằng vi khuẩn lactic (Lactobacillus) trong sữa chua đã lên men và phân hủy các chất độc gây ra lão hóa ở người, đồng thời làm giảm hoạt động của vi khuẩn có hại trong ruột già.

Vào năm 1953, Werner Kollath lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ "Probiotika" (probiotic) và cho rằng "probiotic là những hoạt chất thiết yếu cho sự phát triển sự sống khỏe mạnh". Thuật ngữ này sau đó đã được phát triển với nhiều quan điểm khác nhau. Đến năm 2001, WHO/FAO đã đưa ra một định nghĩa mới về probiotic và nó được chấp nhận rộng rãi cho đến tận ngày nay. Theo đó, "probiotic là các vi sinh vật sống khi được bổ sung một lượng vừa đủ sẽ tác động có lợi đến sức khỏe vật chủ".

 

2. Probiotic có vai trò gì và hoạt động như thế nào?̀

Trạng thái cân bằng giữa hệ vi sinh vật đường ruột và vật chủ là điều thiết yếu cho nội cân bằng đường ruột do đóng vai trò quan trọng trong các chức năng tiêu hóa, miễn dịch và trao đổi chất. Vi sinh vật đường ruột thực hiện hàng loạt chức năng cho vật chủ, từ chức năng bảo vệ biểu mô, trao đổi chất cho đến điều hòa miễn dịch. Chức năng bảo vệ niêm mạc được thực hiện thông qua bảo vệ biểu mô tiêu hóa chống lại các bệnh truyền nhiễm để thu lại năng lượng từ các chất dinh dưỡng, sinh ra các axít béo chuỗi ngắn với vai trò sinh lý khác nhau. Ngày nay, những nghiên cứu khác nhau sử dụng các kỹ thuật phân tích tiên tiến đã nêu bật tầm quan trọng của việc điều hòa hệ vi sinh vật đường ruột theo hướng cải thiện sức khỏe con người.

Các chương trình can thiệp chế độ ăn uống cụ thể liên quan đến chiến lược dựa trên thực phẩm hoặc bổ sung thông qua thực phẩm, chẳng hạn như sử dụng prebiotic và probiotic được đề xuất như những giải pháp thích hợp trong điều trị những rối loạn liên quan đến hệ vi sinh vật đường ruột. Việc sử dụng các vi sinh vật probiotic trong điều trị và phòng ngừa các bệnh đường tiêu hóa đã mang lại những kết quả khả quan.

Các cơ chế hoạt động chính của vi sinh vật probiotic bao gồm: cơ chế loại trừ cạnh tranh, cơ chế sản sinh các chất kháng vi sinh vật (axít hữu cơ, H2O2, CO2, bacteriocin, reuterin, các chất kháng vi sinh vật khác), cơ chế điều hòa miễn dịch, cơ chế sản sinh enzyme và các sản phẩm trao đổi chất khác.

 

3. Probiotic có an toàn không?̀

Các vi khuẩn probiotic trong các sản phẩm thực phẩm và dược phẩm truyền thống có thể khẳng định chắc chắn về tính an toàn và giá trị sử dụng do lợi ích đem đến và “bảng thành tích lịch sử” đã được xác nhận trong suốt hàng ngàn năm qua. Khả năng gây bệnh của vi khuẩn probiotic cho đến nay được các nhà khoa học chuyên ngành xem là không đáng kể.

Tuy nhiên, bởi vì ngày càng có nhiều vi khuẩn probiotic được sử dụng, trong đó có các chủng mới hoặc chủng biến đổi gen, cho nên vấn đề an toàn phải được quan tâm và chú ý đầy đủ. Các quy định và tiêu chuẩn an toàn hiện nay đối với chế phẩm probiotic dựa trên trước hết vào phân loại, tác dụng của chế phẩm probiotic, đó có thể là một thực phẩm, một chế phẩm bổ sung hay một dược phẩm trong điều trị lâm sàng, từ đó sẽ có yêu cầu riêng biệt về các kiểm nghiệm an toàn theo đúng quy định của loại chế phẩm đó. Bên cạnh đó, ngoài các hoạt tính probiotic và đảm bảo an toàn thì các chủng vi khuẩn probiotic phải được mô tả chi tiết các thông tin về nguồn gốc chủng, tên phân loại đến chi và loài cũng như kiểm tra khả năng đề kháng kháng sinh của chúng.

Mặ̣c dù hoạt tính probiotic là đặc trưng chủng và không đặc trưng loài, nhưng việc định danh chính xác ở cấp loài luôn là điều cần thiết. Để đánh giá về khía cạnh an toàn ở mức độ loài, các nhà khoa học đưa ra 2 khái niệm chính: loài an toàn và loài cơ bản. Loài an toàn (safe species) là loài gồm những chủng probiotic đã được đánh giá an toàn theo một tiêu chuẩn được công nhận rộng rãi. Loài cơ bản (principle species) là loài gồm những chủng probiotic đã được sử dụng phổ biến với mục đích thương mại. Tất cả các loài cơ bản đều phải là loài an toàn. Hiện nay có hai tiêu chuẩn an toàn được chứng nhận bởi các tổ chức uy tín trên thế giới dành cho các sản phẩm probiotic được bổ sung vào thực phẩm, dược phẩm: chứng nhận GRAS (Generally Regarded As Safe) của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA, American Food and Drug Administration) và chứng nhận QPS (Qualified Presumption of Safety) của Tổ chức An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA, European Food Safety Authority).

 

4. Tại sao các vi khuẩn Gram dương sinh bào tử như Bacillus ngày càng được quan tâm nghiên cứu ứng dụng làm probiotic?̀

Vi khuẩn lactic là nhóm vi sinh vật được sử dụng phổ biến nhất trong điều chế probiotic cho con người và vật nuôi. Đó là do chúng có khả năng lên men carbohydrate tạo thành axít lactic, giúp cơ thể vật chủ tăng cường khả năng tiêu hóa và hấp thu các loại đường, đồng thời có thể ức chế các vi sinh vật gây bệnh. Quan trọng hơn, đây là nhóm vi khuẩn được tìm thấy trong hầu hết các thực phẩm lên men truyền thống đã được con người sử dụng hàng ngàn năm nay với tính an toàn và giá trị sử dụng đã được xác nhận. Các chủng vi khuẩn probiotic thường thuộc về các chi Lactobacillus và Bifidobacterium, và ít phổ biến hơn là các chi PediococcusEnterococcus và Lactococcus.

Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản của vi khuẩn lactic và các vi khuẩn không sinh bào tử khác là những khó khăn gặp phải trong việc duy trì tỷ lệ sống và hoạt tính sinh học của chủng trong quá trình sản xuất công nghiệp, nhất là ở giai đoạn làm khô sản phẩm (ví dụ: đông khô). Vì vậy, các vi khuẩn Gram dương sinh bào tử như Bacillus ngày càng được quan tâm nghiên cứu ứng dụng làm probiotic do chúng có khả năng sinh nội bào tử (endospore) với khả năng chịu nhiệt và các điều kiện bất lợi khác, vì vậy chúng có thể được điều chế thành chế phẩm probiotic dạng bột khô hoặc viên nang với thời gian bảo quản khô gần như vô thời hạn và phân phối thuận tiện đến người tiêu dùng.

Mô tả lần đầu tiên về chi Bacillus bắt đầu vào năm 1872 (Cohn) và khi đó mới chỉ có hai loài là Bacillus anthracis và Bacillus subtilis. Ngày nay có khoảng 150 loài đã được mô tả và nhiều loài đã được chuyển sang các chi khác có quan hệ tiến hóa gần gũi. Thành viên của chi Bacillus (và các chi liên quan) đều là các vi khuẩn dị dưỡng, có tế bào hình que, hiếu khí, sản sinh axít lactic và các sản phẩm trao đổi chất khác (như CO2, diacetyl, bacteriocin). Tỷ lệ G + C trong hệ gen dao động trong khoảng 32 - 69%.

Các loài vi khuẩn Bacillus thường gắn liền với môi trường đất cho nên chúng được gọi là các vi khuẩn đất, nhưng nguồn phân lập thường xuyên cũng có thể là nước, bụi và không khí. Ngoài ra, chúng cũng dễ dàng được tìm thấy trong hệ đường ruột của người, động vật có vú, động vật thủy sinh và động vật không xương sống. Điều này là do lây nhiễm hoặc là do chúng thường trú ở đó. Trực khuẩn Bacillus là nhóm được sử dụng phổ biến nhất trong sản xuất công nghiệp dùng để sản xuất kháng sinh, hóa chất công nghiệp và các enzyme. Hơn nữa, các bào tử chịu nhiệt là một vấn đề quan trọng đối với một số lĩnh vực cụ thể như công nghiệp sữa khô.

Các vi khuẩn sinh bào tử có tiềm năng lớn để sử dụng làm probiotic chủ yếu thuộc vào các loài như Bacillus cereusBacillus clausiiBacillus coagulansBacillus indicusBacillus licheniformisBacillus pumilusBacillus subtilisBacillus laterosporus (nay là Brevibacillus laterosporus), Bacillus laevolacticus (nay là Sporolactobacillus laevolacticus), Bacillus polymyxa (nay là Paenibacillus polymyxa) và "B. polyfermenticus" (chưa được mô tả chính thức). Như vậy có ít nhất ba chi vi khuẩn mới (Brevibacillus, Sporolactobacillus, Paenibacillus) được sắp xếp lại từ các thành viên của chi Bacillus ban đầu có tiềm năng sử dụng làm probiotic.

 

5. Các chế phẩm probiotic EnteroGolds và EnteroGran có tác dụng như thế nào?̀

EnteroGoldsEnteroGran là các chế phẩm probiotic chứa vi khuẩn Bacillus clausii do Công ty Cổ phần Vắc xin và Sinh phẩm Y tế Nha Trang sản xuất Công ty Cổ phần Dược phẩm Bến Tre phân phối. Cả hai chế phẩm đều chứa vi khuẩn Bacillus clausii ở mật độ cao (2×109 CFU/g) đảm bảo hoạt tính probiotic đủ mạnh khi sử dụng, trong đó EnteroGolds được sản xuất dưới dạng viên nang (500 mg) còn EnteroGran ở dạng bột khô (1 g). Theo quan điểm khoa học probiotic ở trên, Bacillus clausii đã được xác nhận vừa là loài cơ bản vừa là loài an toàn trong điều chế probiotic.

Bacillus clausii được mô tả lần đầu vào năm 1995 cùng với các loài vi khuẩn ưa kiềm khác trong chi Bacillus và được đặt theo tên của nhà vi sinh học người Đức (Claus) - người đã có nhiều đóng góp cơ bản trong việc nghiên cứu trực khuẩn đất. Các loài có quan hệ phát sinh loài gần gũi nhất là Bacillus oshimensisBacillus lehensisBacillus patagoniensisBacillus gibsoniiBacillus murimartini và Bacillus plakortidis.

Điểm đặc trưng của loài Bacillus clausii là khả năng sản sinh catalase và oxidasekhử nitratthủy phân tinh bột và gelatin, sinh trưởng ở nhiệt độ 30 - 50C và ở nồng độ muối NaCl lên đến 10%. Tỷ lệ G + C trong hệ gen là khoảng 43%. Chủng chuẩn của loài là ATCC 700160T (= DSM 8716T) được phân lập từ đất vườn. Một số chủng của loài đã được giải mã bộ gen với các số hiệu gen như Gc00228 và Gi00061.

Trong chế phẩm EnteroGoldsEnteroGran, vi khuẩn Bacillus clausii tồn tại ở trạng thái bào tử, nhờ vậy khi uống vào dạ dày nó không bị phá hủy bởi axit và các enzym tiêu hóa, cũng như có thể sống sót dưới sự tấn công của muối mật trong ruột non. Do vậy, các bào tử của vi khuẩn Bacillus clausii dễ dàng đến ruột non để phát triển thành dạng tế bào sinh dưỡng, giúp tái lập cân bằng hệ vi sinh đường ruột. Vi khuẩn Bacillus clausii có khả năng tổng hợp một số vitamin, đặc biệt vitamin nhóm B, góp phần bổ sung vitamin thiếu hụt do việc dùng thuốc kháng sinh hoặc hóa trị. Bacillus clausii kích thích chức năng của hệ miễn dịch đường tiêu hóa bằng cách tăng sản sinh kháng thể IgA để hạn chế vi khuẩn gây bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa. Nhờ hoạt tính kháng đa kháng sinh, các chủng Bacillus clausii trong chế phẩm có khả năng phát triển và hoạt động ngay khi có mặt các kháng sinh như penicillincephalosporintetracyclinemacrolideaminoglycosidenovobiocinchloramphenicollincomycinrifampicinaxít nalidixc ...

Với những đặc tính hữu ích và độc đáo như vậy, các chế phẩm EnteroGoldsEnteroGran có thể dùng cho trẻ em và người lớn để giúp điều trị và phòng ngừa rối loạn vi sinh đường ruột và bệnh lý kém hấp thu vitamin nội sinh; hỗ trợ điều trị để phục hồi hệ vi sinh đường ruột bị ảnh hưởng khi dùng thuốc kháng sinh hoặc hóa trị; và hỗ trợ điều trị những rối loạn tiêu hóa cấp và mạn tính. Trong thời gian điều trị với kháng sinh, cần thận trọng sử dụng và nên tham khảo ý kiến chuyên môn của bác sỹ.

 

6. Tài liệu tham khảò

  • Nguyễn Văn Duy (Chủ biên), Lê Đình Đức, Nguyễn Thị Kim Cúc, Phạm Thu Thủy, Lê Phương Chung (2015). Công nghệ Probiotic. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
  • Nguyen Van Duy (2016). Marine glycans in relationship with probiotic microorganisms to improve human and animal health. In: Marine Glycobiology: Principles and Applications, Kim SK (ed.), CRC Press, pp. 65- 83.
  • Charalampopoulos D and Rastall RA (2009). Prebiotics and Probiotics Science and Technology. New York: Springer.
  • Cho SS and Finocchiaro ET (2010). Handbook of Probiotics and Prebiotics Ingredients - Health Benefits and Food Applications. Boca Raton: CRC Press.
  • Ghelardi E, Celandroni F, Salvetti S, Gueye SA, Lupetti A, Senesi S (2015). Survival and persistence of Bacillus clausii in the human gastrointestinal tract following oral administration as spore-based probiotic formulation. J Appl Microbiol. 119(2):552-9.
  • Lee YK and Salminen S (2009). Handbook of Probiotics and Prebiotics. New Jersey: John Wiley and Sons.
  • Silva JPS and Freitas AC (eds.) (2014). Probiotic Bacteria: Fundamentals, Therapy, and Technological Aspects. Boca Raton: CRC Press.
  • Sudha MR, Bhonagiri S, Kumar MA (2013). Efficacy of Bacillus clausii strain UBBC-07 in the treatment of patients suffering from acute diarrhoea. Benef Microbes. 4(2):211-6.
  • Tannis A (2008). Probiotic Rescue. Hoboken: John Wiley and Sons.
  • Tewari VV, Dubey SK, Gupta G (2015). Bacillus clausii for Prevention of Late-onset Sepsis in Preterm Infants: A Randomized Controlled Trial. J Trop Pediatr. 61(5):377-85.

Nguyễn Văn Duy, bacillus clausii, enterogolds, enterogran, men vi sinh, men tieu hoa, men tiêu hóa



Một số ý kiến khác

1- Tầm quan trọng của EnteroGolds và EnteroGran trong sức khỏe

Người đăng: Hỗ trợ tiêu hóa | 2017-03-13 09:06:11




Entero -Bụng khỏe sống vui Đồng hành cùng chúng tôi
trên facebook